Chi tiết câu hỏi :
Đơn vị tôi đã lập, trình
thẩm định hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành một số công trình xây dựng thuộc
nguồn vốn Nhà nước. Tuy nhiên gặp vướng mắc, công trình có gói thầu thi công
xây dựng theo hợp đồng trọn gói. Nhà thầu thi công đúng thiết kế được duyệt
nhưng khối lượng thi công khác khối lượng hợp đồng. Trên cơ sở khối lượng thực
tế, xác định lại giá trị thực tế gói thầu thi công thì xảy ra 2 trường hợp và
lập hồ sơ quyết toán cho từng trường hợp như sau: Trường hợp giá trị thực tế
thi công lớn hơn giá trị hợp đồng trọn gói đã ký (đã tính cả khối lượng tăng và
giảm), đơn vị tôi làm việc với nhà thầu thi công và thống nhất lập hồ sơ thanh,
quyết toán công trình theo giá trị hợp đồng trọn gói. Trường hợp giá trị thực
tế thi công nhỏ hơn giá trị hợp đồng trọn gói đã ký (có khối lượng tăng, có
khối lượng giảm), đơn vị làm việc với nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn thiết
kế để xác định trách nhiệm bồi thường của tư vấn thiết kế và thống nhất việc
thanh quyết toán theo giá trị công trình. Tuy nhiên, Phòng tài chính (cơ quan
thẩm tra quyết toán) tính lại giá trị quyết toán công trình và chỉ chấp nhận
phần giá trị khối lượng giảm, không chấp nhận phần giá trị khối lượng tăng.
Cách xử lý này của Phòng tài chính không được nhà thầu chấp nhận. Tôi xin
hỏi, trường hợp này đơn vị tôi phải làm như thế nào?
Trả lời :
Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi hướng dẫn vấn đề này như sau:
Việc thanh toán, quyết
toán và điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng phải thực hiện theo loại hợp đồng, giá
hợp đồng và các thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký kết và phù hợp với
quy định của pháp luật tương ứng với từng thời kỳ.
Khi áp dụng giá hợp đồng
trọn gói thì giá gói thầu, giá hợp đồng phải tính toán đầy đủ các yếu tổ rủi ro
liên quan đến giá hợp đồng như rủi ro về khối lượng, trượt giá trong thời gian
thực hiện hợp đồng và mỗi bên phải tự chịu trách nhiệm đối với các rủi ro của
mình.
Theo quy định tại Nghị
định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi
tiết về hợp đồng xây dựng thì hợp đồng trọn gói được hiểu là trọn gói trong phạm vi công việc và các thỏa thuận
đã được các bên thống nhất trong hợp đồng.
Khi nhà thầu thực hiện
thi công theo đúng thiết kế được duyệt và nội dung đã ký kết giữa các bên trong
hợp đồng thì chủ đầu tư thanh toán, quyết toán đúng bằng giá trị của hợp đồng
đã ký. Việc giảm trừ thanh toán chỉ thực hiện đối với trường hợp cắt giảm hạng
mục, công việc so với thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư.
Điểm d, Khoản 1, Điều
62 Luật Đấu thầu quy định, “Đối với gói thầu xây lắp, trong quá trình thương thảo, hoàn thiện
hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát lại bảng khối lượng công việc theo
thiết kế được duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên mời thầu phát hiện bảng số lượng,
khối lượng công việc chưa chính xác so với thiết kế, bên mời thầu báo cáo chủ
đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh khối lượng công việc để bảo đảm phù
hợp với thiết kế”.
Theo quy định nêu trên, đối với hợp đồng trọn gói, việc các bên rà soát
khối lượng công việc ngoài các thỏa thuận mà các bên đã ký kết trong hợp đồng
trong thời gian quyết toán là không phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu.
Quy định thẩm tra quyết
toán hợp đồng trọn gói
Mặt khác, việc thẩm tra
quyết toán đối với hợp đồng trọn gói được quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 15
Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 của Bộ Tài chính quy định
về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và quy định cụ thể tại
Điểm 2.3, Điều 3; Điều 16 Quyết định số 04/2014/QĐ-BTC ngày 2/1/2014 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy trình thẩm tra quyết toán dự án hoàn
thành đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước.
Theo đó, thẩm tra đối
với gói thầu hợp đồng theo hình thức “hợp đồng trọn gói” thực hiện như sau:
“Đối chiếu nội dung công
việc, khối lượng thực hiện trong bảng tính giá trị đề nghị quyết toán A-B với
biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành và các yêu cầu của hợp đồng
để xác định khối lượng công việc hoàn thành đã được nghiệm thu đúng quy định.
Đối chiếu đơn giá trong
bảng tính giá trị đề nghị quyết toán A-B với đơn giá ghi trong bảng tính giá
trị hợp đồng; khi nhà thầu thực hiện đầy đủ các yêu cầu, nội dung công việc,
đúng khối lượng công việc hoàn thành và đơn giá ghi trong hợp đồng, bảng tính
giá hợp đồng; thì giá trị quyết toán đúng bằng giá trọn gói của hợp đồng đã ký.
Không chiết tính lại khối lượng cũng như đơn giá chi tiết đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt theo quyết định trúng thầu”.
Về tính pháp lý của hợp
đồng xây dựng, tại Điểm c, Khoản 3, Điều 6 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định,
“các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay vốn, thanh
tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan khác có liên quan phải căn cứ vào nội
dung hợp đồng xây dựng có hiệu lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
theo quy định, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
tham gia hợp đồng”.
Theo các quy định và
hướng dẫn nêu trên, trong quá trình quyết toán, thẩm tra quyết toán, các bên
liên quan chiết tính lại khối lượng, đơn giá chi tiết trong hợp đồng trọn gói
ngoài các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết là không phù hợp với quy định
hiện hành.
I-
CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ
1- Luật
đấu thầu và Nghị định 63
2- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của
Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
3- Thông
tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 của
Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước
II- LUẬN
CỨ ĐỂ BẢO VỆ
1- HỢP
ĐỒNG A-B là Văn bản mang tính PHÁP LÝ cao nhất giữa A-B:
- Điểm
c, Khoản 3, Điều 6 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định, “các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay
vốn, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan khác có liên quan phải căn
cứ vào nội dung hợp đồng xây dựng có hiệu lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình theo quy định, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên tham gia hợp đồng
- Xem
lại các Điều khoản của Hợp đồng về Đơn giá và Khối lượng thanh toán
2-
Việc KIỂM TOÁN chiết tính lại KHỐI LƯỢNG + ĐƠN GIÁ đối với HỢP ĐỒNG NÀY là
không phù hợp.
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi
tiết về hợp đồng xây dựng thì hợp đồng trọn gói được hiểu là trọn
gói trong phạm vi công việc và các thỏa thuận đã được các bên thống nhất trong
hợp đồng: “Chúng tôi đã thỏa thuận làm các công việc với
KHỐI LƯỢNG và ĐƠN GIÁ liệt kê trong bảng Phụ lục hợp đồng nghĩa là các KHỐI
LƯỢNG và ĐƠN GIÁ này là TRỌN GÓI. Do vậy Khi thực hiện thi công
theo đúng THIẾT KẾ ĐƯỢC
DUYỆT và nội dung đã ký kết giữa các bên trong hợp
đồng thì chủ đầu tư thanh toán, quyết toán đúng bằng giá trị của hợp đồng đã
ký. Việc giảm trừ thanh toán
chỉ thực hiện đối với trường hợp cắt giảm hạng mục, công việc so với thiết kế
theo yêu cầu của chủ đầu tư”.
- Điểm d, Khoản 1, Điều 62 Luật Đấu thầu quy định, “Đối với gói thầu xây lắp,
trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát
lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên
mời thầu phát hiện bảng số lượng, khối lượng công việc chưa chính xác so với
thiết kế, bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh
khối lượng công việc để bảo đảm phù hợp với thiết kế”.
è Nhà thầu đã tiến hành rà soát trong khâu thương thảo với CĐT, kết
quả ra được phụ lục đơn giá khối lượng, sau đó CĐT trình cấp thẩm quyền thẩm
định và phê duyệt è Vậy KHỐI LƯỢNG CÔNG VIỆC ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THIẾT
KẾ ĐƯỢC DUYỆT.
3- Quy định thẩm tra quyết toán hợp đồng trọn
gói
Việc thẩm tra quyết toán
đối với hợp đồng trọn gói được quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 15 Thông tư
số 09/2016/TT-BTC ngày 18/1/2016 của Bộ Tài chính quy định
về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và quy định cụ thể tại
Điểm 2.3, Điều 3; Điều 16 Quyết định số 04/2014/QĐ-BTC ngày 2/1/2014 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy trình thẩm tra quyết toán dự án hoàn
thành đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước.
Theo đó, thẩm tra đối
với gói thầu hợp đồng theo hình thức “hợp
đồng trọn gói” thực hiện như sau:
“Đối chiếu nội dung công việc, khối lượng thực
hiện trong bảng tính giá trị đề nghị quyết toán A-B với biên bản nghiệm thu
khối lượng công việc hoàn thành và các yêu cầu của hợp đồng để xác định khối
lượng công việc hoàn thành đã được nghiệm thu đúng quy định.
Đối chiếu đơn giá trong bảng tính giá trị đề
nghị quyết toán A-B với đơn giá ghi trong bảng tính giá trị hợp đồng; khi nhà thầu thực hiện đầy đủ các yêu cầu,
nội dung công việc, đúng khối lượng công việc hoàn thành và đơn giá ghi trong
hợp đồng, bảng tính giá hợp đồng [KHỐI LƯỢNG HOÀN THÀNH ĐÃ ĐƯỢC TVGS + CĐT KIỂM
TRA XÁC NHẬN]; thì giá trị quyết toán
đúng bằng giá trọn gói của hợp đồng đã ký. Không chiết tính lại
khối lượng cũng như đơn giá chi tiết đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo
quyết định trúng thầu”.
TÓM
LẠI:
Nếu chiết tính lại KHỐI LƯỢNG + ĐƠN GIÁ của HĐ NÀY mà
phát hiện ra SAI SÓT thì có nghĩa là HỢP ĐỒNG NÀY chưa đủ điều kiện TRỌN GÓI mà
BÊN A (CHỦ ĐẦU TƯ) đã tiến hành mời thầu
làm
________

Không có nhận xét nào
Đăng nhận xét